Nguồn gốc ra đời của tiền tệ

     

Tiền là hình thái không thể thiếu trong thời đại ngày nay. Nhờ có sự xuất hiện của tiền mà mỗi cá nhân, doanh nghiệp và nền kinh tế có thể thỏa mãn các mục đích của mình một cách đơn giản. Vậy nguồn gốc của tiền tệ là gì? Cùng r-star.vn tìm hiểu nhé

*

Tiền là gì?

Tiền (money) là tài sản được chấp nhận rộng rãi làm phương tiện trung gian trong quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các tài sản hiện vật khác được định giá bằng tiền và trao đổi nhau thông qua việc sử dụng tiền làm ước số chung, nghĩa là mọi thứ (hiện có, nhưng không có nhu cầu), được đổi ra tiền, sau đó mới được đổi sang thứ khác chứ không trao đổi trực tiếp như hình thức trao đổi hiện vật.

Bạn đang xem: Nguồn gốc ra đời của tiền tệ

Việc sử dụng tiền làm phương tiện thanh toán cho phép nền kinh tế sản xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên môn hóa trong sản xuất, giảm bớt thời gian và nỗ lực mà người bán và người mua phải sử dụng để tiến hành trao đổi với nhau (tức giảm thời gian và chi phí giao dịch).

Các chức năng quan trọng khác của tiền là phương tiện cất giữ giá trị hay sức mua - tức tiền có thể giữ trong một thời gian và sử dụng để thanh toán các khoản mua hàng tương lai - và đơn vị tính toán, tức tiền được sử dụng để tính toán và ghi chép giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một thời kỳ, chẳng hạn GDP.

Nguồn gốc của tiền tệ

Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, trao đổi hàng hóa và các hình thái giá trị.

Có 4 hình thái giá trị:

Hình thái giá trị đơn giản: xuất hiện khi xã hội Công xã nguyên thủy tan rã, sự trao đổi mang tính ngẫu nhiên.Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Khi sản xuất hàng hóa phát triển hơn, số lượng hàng hóa được đem ra trao đổi nhiều hơn, một hàng hóa có thể trao đổi được với nhiều hàng hóa khác.Hình thái chung của giá trị: giá trị của hàng hóa thể hiện ở một hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung. Người ta mang hàng hóa của mình đổi lấy vật ngang giá chung, rồi dùng vật ngang giá chung đổi lấy thứ hàng hóa mình cần. Các địa phương, vùng khác nhau thì hàng hóa làm vật ngang giá chung cũng khác nhau.Hình thái tiền tệ: Có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương khó khăn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhất. Ban đầu, vật ngang giá chung cố định là vàng và bạc, hình thái của giá trị xuất hiện. Những vàng có ưu thế hơn bạc nên cuối cùng hình thái tiền tệ được cố định ở vàng.

*

Bản chất của tiền tệ là gì?

Với câu hỏi này, học viên cần so sánh quan điểm của K. Marx với một vài quan điểm khác:

Quan điểm của K.Marx: Tiền là “hàng hóa đặc biệt” bởi lẽ: Tiền có giá trị sử dụng đặc biệt (giá trị sử dụng là công dụng có ích của hàng hóa); Tiền tệ thỏa mãn hầu hết nhu cầu của người sở hữu.Quan điểm của P. Samuelson: "Tiền là thứ dầu bôi trơn" trong guồng máy luân chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng.Quan điểm của M. Friedman và các nhà kinh tế học hiện đại:" Tiền là các phương tiện thanh toán" có thể thực hiện được các chức năng làm trung gian trao đổi, đơn vị tính toán và có thể tích lũy của cải. Tiền tệ ra đời kết quả tất yếu của sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại.

Tham khảo thêm thông tin tuyển sinh tại Thủ Đức, TP.HCM

Các chế độ của tiền tệ:

Chế độ đơn bản vị ( chế độ một bản vị – monometallism).

Đơn bản vị là một chế độ tiền tệ lấy một thứ kim loại làm vật ngang giá chung.

Trong một đơn vị bản vị, vật ngang giá là vật liệu đúc tiền có thể là kẽm, đồng, bạc hoặc vàng.

Nếu chế độ bản vị với kẽm hoặc đồng làm bản vị và trở thành tiền đúc, người ta gọi đó là chế độ lưu thông tiền kém giá. Phản ánh đặc trưng của nền kinh tế hàng hóa kém phát triển từ phương thức sản xuất trở về trước.Nếu chế độ đơn bản vị với vật ngang giá là bạc hoặc vàng. Và sự xuất hiện tiền đúc bằng bạc hoặc vàng, người ta gọi đây là chế độ lưu thông tiền đủ giá.

Chế độ song bản vị ( chế độ 2 bản vị – Bimetallism).

Là chế độ tiền tệ mà vàng và bạc đều được sử dụng với tư cách là tiền tệ. Vàng và bạc đều là vật ngang giá đều thực hiện chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông với quyền lực ngang nhau.

Xem thêm: Gợi Ý Cách Đặt Tên Con Trai Năm 2021 Theo Phong Thủy Bé May Mắn Cả Cuộc Đời

Trong chế độ này tièn đúc bằng vàng và bạc đều đúc tự do và thanh toán không hạn chế.

gồm 2 chế độ:

Bản vị song song: Là bản vị mà theo đó tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị trường theo giá thực tế của nó. Nhà nước không can thiệp, làm xuất hiện2 thước đo giá trị và do đó có 2 hệ thống giá cả.Bản vị kép: Là song bản vị, nhưng tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị trường theo tỉ giá đã được nhà nước quy định, tỉ giá giữa vàng và bạc do nhà nước quy định gọi là tỉ giá pháp định, có hiệu lực trong cả nước.

 Việc quy định tỉ giá xác định rõ ràng là nhằm khắc phục những rối loạn của chế độ bản vị song song. ).

Ví dụ: năm 1792, 1 USD vàng bằng 1.603 gam vàng ròng; 1 USD bạc bằng 24,06 gam bạc ròng. Do đó, trọng lượng 1 USD bạc bằng 15 lần trọng lượng 1 USD vàng. Chế độ này từng được áp dụng ở Anh, Hoa Kỳ trước thế kỷ 19.

Chế độ bản vị vàng ( gold standard).

Bản vị vàng là đồng tiền của một nước được đảm bảo bằng một trọng lượng vàng nhất định theo pháp luật. Những yếu tố cần thiết của bản vị tiền vàng gồm:

Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng.Tiền giấy quốc gia được nhà nước xác định một trọng lượng vàng nhất định và được tự do chuyển đổi ra vàng theo tỉ lệ đã quy định.Tiền vàng được lưu thông không hạn chế.

Chế độ bản vị tiền vàng được sử dụng phổ biến ở các nước trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

*

Chế độ bản vị vàng thỏi:

Bản vị vàng thỏi cũng quy định cho đơn vị tiền tệ quốc gia một trọng lượng vàng cố định. Nhưng vàng được đúc thành thỏi mà không đúc thành tiền. Vàng không lưu thông trong nền kinh tế mà chỉ dự trữ làm phương tiện thanh toán quốc tế và chuyển dịch tài sản ra nước ngoài.

Chế độ bản vị vàng hối đoái:

Là chế độ bản vị trong đó tiền giấy quốc gia không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng, muốn đổi ra vàng phải thông qua một ngoại tệ. Ngoại tệ đó phải được tự do chuyển đổi ra vàng VD: Dola Mỹ, Bảng Anh, …..

Chế độ bản vị ngọai tệ:

Đơn vị tiền tệ quốc gia được xác định bằng đơn vị tiền tệ của nước ngoài (ngoại tệ). Đó phải là các ngoại tệ mạng và được tự do chuyển đổi trên thị trường quốc tế. Chế độ này sử dụng phổ biến ở những nước có ít vàng hoặc bị lệ thuộc vào nước khác. Chế độ này từng được áp dụng từ 1944-1971. Bắt đầu sụp đổ từ 1960.

Chế độ bản vị tiền giấy không chuyển đổi ra vàng:

Dưới chế độ này, đơn vị tiền tệ của một quốc gia không được chuyển đổi ra kim loại quý. Theo đó, vàng bị rút ra khỏi lưu thông trong nước, tiền giấy không được đổi ra vàng và vàng chỉ được dùng để thanh toán quốc tế. Chế đô này phổ biến vào những năm 1930.

Xem thêm: Họ Cười Tôi Vì Tôi Không Giống Họ, Họ Cười Tôi Vì Tôi Khác

Với những chia sẻ của r-star.vn chắc hẳn các bạn đã hiểu tiền tệ là gì nguồn gốc cũng như các chế độ của tiền tệ đúng không nào? Niềm tin chính là cơ sở của tiền tệ hiện nay, kể cả tiền kĩ thuật số. Nếu một ngày nào đó, không ai tin vào giá trị của một loại tiền nào đó thì tiền đó chắc chắc bị sụp đỗ.